Lẽ phải ngược đời

Năm đứa tất cả. Như năm con chim sẻ túm tụm sưởi nắng trên một tảng đá to giống cái lưng một con voi phủ phục. Đứa gái lớn nhất chừng năm sáu tuổi ngồi giữa, hai tay ôm quàng hai đứa gái bé hơn ở hai bên. Một đứa gái nữa ngồi sán một bên như đang chờ cũng được chị ôm. Bên kia là một đứa trai mới độ sáu bẩy tuổi nhưng đã ra dáng kẻ cả, ngồi cho chân sang phía bên kia hòn đá nhưng vẫn xoay sang cười cười nhìn mấy đứa gái. Chỉ có nó là có vẻ tinh tươm: áo dài tay màu chàm, quần vải thun Tầu xanh lá cây, cổ tay phải đeo một chiếc vòng bạc có quả chuông bé xíu, đầu tóc gọn gàng. Còn bốn đứa gái thì luôm nhuôm mỗi đứa một thứ áo khác nhau, đầu tóc bù xù, mà chỉ con bé lớn mới mặc một cái quần chàm bạc phếch ngắn đến gối, còn thì ở chuồng cả. Tám cái cẳng chân co duỗi mỗi cái một kiểu, nắng chiếu vào xinh ơi là xinh.

Xung quanh chúng là bát ngát những giải xanh lá cây đậm nhạt xa gần của thung lũng đá cổ Sa Pa. Trên đầu chúng là bầu trời đầy nắng, thăm thẳm không một gợn mây. Tiếng nước chảy vọng từ con suối đầy sỏi đá đang nằm chờ mùa lũ ở mãi dưới kia. Giòng nước ngoằn ngoèo lóng lánh dưới nắng như có ai vừa đánh đổ một nồi bạc chảy.

Con bé đang thèm được chị ôm bỗng nhích người lên một tẹo. Một giòng nước lai láng chảy xuống bề mặt đầy những nét khắc loằng ngoằng cổ kính của tảng đá. Nắng cũng long lanh theo giòng nước ấm sực ấy. Con bé bẽn lẽn kéo vạt áo vải xuống che hĩm, rồi nhoẻn miệng cười. Chao ôi, cái nụ cười ấy! Có hoa nào thắm bằng! Có nắng nào rạng rỡ bằng! Con chị vươn tay kéo con em đang xích lại mình. Thằng con trai xoay hẳn người lại nhìn giòng nước đang bốc hơi rồi định hình thành một mảng sẫm mầu như bản đồ một xứ sở nào đó trên mặt đá. Rồi tất cả chúng cùng phá lên cười. Tiếng cười xốn xang cả thung lũng. Tảng đá như bừng lên dưới những ánh mắt đang reo ca theo tiếng cười. Những hình khắc cổ xưa bỗng như động đậy. Vài triệu năm nào về trước, ngọn lửa hồng hoang từ lòng đất đã phụt lên thành đá này, rồi con người đã chạm khắc để cho nó một sứ mệnh mà chính nó cũng không hiểu. Nhưng hôm nay, bọn trẻ dường như đã khiến cho ngọn lửa kia bỗng bùng lên trở lại trong lòng đá đã nguội lạnh không biết tự bao giờ.

Cười đi các cháu! Hãy lớn lên thành các nàng tiên! Hãy lớn lên thành chàng hiệp sỹ. Các cháu khiến ta vừa nghĩ ra được một điều gì hệ trọng lắm kia. Điều gì ấy nhỉ…

***

Tôi đi tìm động Từ Thức. Tấm biển chỉ đường lem nhem ven tỉnh lộ khiến tôi tưởng chỉ rẽ vào đường làng 2 cây số là tới nơi, hóa ra chắc phải đến 12 cây số. Nhưng không sao. Đường đi vui hơn đích đến. Đang giữa mùa gặt, rơm rạ trải kín đường làng. Không trung có hương vị ngai ngái nồng nồng khiến trời xanh trên đầu tôi chín mọng hẳn lên. Thật sảng khoái khi được đi trên những nẻo đường làng giữa một vùng quê còn thuần phác. Khi con người còn tin tưởng ở công việc mình làm thì xóm làng tự nó yên bình đẹp đẽ, vì mọi việc đều có nghĩa lý của nó. Từ cày bừa reo cấy gặt hái cho đến dựng một căn nhà trên mảnh đất của cha ông để lại, đào một mặt ao, trồng một mảnh vườn, rào một đoạn ngõ… Việc gì cũng theo đúng nhịp điệu bốn mùa và nhân tính hồn nhiên. Chi tiết nào cũng được suy tính nâng niu sao cho trời, đất và người giao hòa được với nhau một cách yên bình. Mà thích nhất là ngôi trường của làng hoặc của mấy làng lân cận chung nhau. Đấy, tôi đã thấy nó kia rồi, ở một khoảng đất cao ráo rợp bóng phượng vĩ bên ngoài làng, với một con đường đất chạy qua đồng lúa mới gặt xong vào tận cổng trường, với mấy dãy nhà ba tầng xây thành hình chữ U ngay ngắn khang trang quét vôi trắng vôi hồng thật vui mắt. Đúng lúc ấy, tôi nghe thấy tiếng trống tan trường. Tôi dừng xe, vừa là để rứt bỏ những cọng rơm đang mắc bám đầy vào líp xích nan hoa, vừa để chờ xem cảnh bọn trẻ tung tăng từ trường về nhà.

Chúng đã đang ùa ra kia rồi, ríu rít tít mù, áo trắng khăn đỏ quần xanh, với túi sách đủ các mầu, mũ đội đủ các kiểu, và lớn bé đủ các cỡ. Có nhiều đứa đạp xe giống tôi hồi còn bé: nghĩa là chưa thể ngồi lên yên, mà chỉ bò lên khung để đạp, hoặc xe khung nam thì ngoắc một chân qua bên kia khung để đạp, còn thân mình thì vẫn ở bên này, hai tay vẫn với lên tới ghi-đông để lái. Hình như chẳng có đứa nào chịu đi bình thường. Đứa nào cũng chạy, nhẩy lò cò, chân sáo, tung tăng bên này bên kia, đâm bổ vào nhau, ngã lăn xuống rơm, hò hét loạn xạ, gọi nhau í ới.

Chúng chạy ào ào qua chỗ tôi ngồi bên vệ đường, đứa nào cũng ngoái nhìn một cái rồi lại chạy đi. Có đứa ghé sát vào tận mặt tôi mà nhìn. Đứa nào cũng cười thật tươi trước khi rời mắt khỏi tôi. Bầy chim non ấy yên trí rằng tôi chỉ là một bác vện già vô hại mà chúng có thể tha hồ đậu lên đầu lên cổ, và hình như chúng đều yêu thương tôi lắm. Trong mắt chúng, trên gương mặt chúng, trong giọng nói chúng, tôi cảm nhận được sự sống nóng hổi và vô tận của trời đất và muôn loài, của tổ tiên tôi, của chính tôi, và con cháu tôi. Và một lần nữa, tôi lại có thể giảng hòa với mọi thứ còn lủng củng ở trong lòng, và lại muốn ước, muốn mong.

“Cháu ơi, động Từ Thức còn xa không cháu?” tôi hỏi hai đứa gái bé bằng hai con cò trắng, một béo một gầy, có vẻ đang nhí nhách bình phẩm với nhau về cái ông nhếch nhác đang loay hoay bên chiếc xe đạp tàng đầy rơm.

“Dạ, không xa mấy nữa ông ơi,” đứa béo hăng hái nói. Má nó đỏ hồng, mắt nó lay láy như hai hạt nhãn, mũi với miệng nó xinh như mèo con.

Đứa gầy, vẫn chăm chăm nhìn tôi, bấy giờ mới đưa một bàn tay bé như chân chuột lên quệt mũi một cái rồi tiếp lời bạn: “Ông cứ đi theo cái giây điện này là đến ạ.” Nó chỉ tay lên đường giây điện chạy vắt trên những cột tre, mắt vẫn dán vào tôi như con chuột con nhìn một con chuột già ở đâu mới đến, rồi dặn dò: “Ông đi gặp tiên rồi ông lại về ông nhá!” Rồi hai đứa cùng cười, cùng chạy ù đi. Cái mũ trên đầu đứa béo trật ra đàng sau, còn hai cái đuôi sam bé tẹo của đứa gầy thì ngoe nguẩy lên xuống theo mỗi bước chạy.

Hôm ấy, tôi đến được động Từ Thức hoang vu, nhưng không đủ kiên nhẫn để vào những ngóc ngách tối mò và ẩm thấp có những tên gọi rất kêu mà nay tôi đã quên cả rồi. Trong gian điện nhỏ ngoài cửa động, một người đàn ông ôm cây đàn tam nỉ non hát về cuộc tình một ngày bằng trăm năm thủa trước. Nếu Từ Công đã may mắn như tôi hôm nay, gặp được một con bé con nó dặn “đi gặp tiên rồi lại về ông nhé”, thì có lẽ ông đã không lỡ làng với quê hương và số phận của mình. Tôi vội vã quay ra ngoài nắng, trở lại con đường sẽ đưa tôi qua những làng xóm khác nữa đang thơm ngát mùi rơm rạ và rạng rỡ những gương mặt trẻ thơ.

Rõ ràng bấy lâu nay trong suy nghĩ của tôi về bọn trẻ có một điều gì đó rất ngược đời đang hình thành. Điều gì thế nhỉ? Các cụ ngày xưa viết chữ “Ý” bằng cách đặt chữ “âm” là âm thanh lên trên chữ “tâm”, muốn tỏ rằng những ấp ủ trong tâm phải nói được ra lời thì mới thành ý nghĩ. Phải rồi, cái tâm của tôi về bọn trẻ vẫn chưa tìm được lời. Và nó cứ vấn vương trong lòng…

Cho đến cái hôm mìn nổ trên một đoạn Quốc lộ 2 không xa Hà Giang là mấy. Lúc ấy, nắng sớm đã rọi đến đỉnh vách đá dựng đứng phía bên phải con đường. Những vỉa đá mầu hồng chạy xiên từ quãng có nắng đỏ au xuống phía dưới còn sẫm mầu, như những vết thương chưa lành. Bên trái là bờ vực đổ thẳng xuống hữu ngạn sông Lô. Tiếng nước chảy rào rào qua những tảng đá ngổn ngang dưới khúc sông quành theo sườn núi. Đoạn đường này đang đại tu, đạp xe cực kì vất vả. Một tấm biển tôn hoa to bằng tờ báo trải rộng dựng giữa lòng đường với giòng chữ hắc ín: “Dừng lại, Nổ mìn”.

Tôi đứng chờ cùng một đám đông học sinh cũng đi xe đạp như tôi. Ba bốn chục cô cậu tầm 15, 16 tuổi, đồng phục tươm tất, có vẻ đã có ý thức mình là người lớn nên không ríu rít í ới lố cuồng như tụi trẻ cấp một, nhưng cái bồng bột hồn nhiên vẫn bừng bừng trên những gương mặt măng tơ. Bên phải tôi là một cậu trai khỏe mạnh ngồi trên chiếc xe Bridgestone khung nam, một chân gác lên bàn đạp, chân kia chống xuống đất, hai tay khoanh trước ngực, mắt mở to nhìn về phía sẽ có mìn nổ, vẻ mặt rất bình thản như thể ngày nào cậu cũng phải chờ nổ mìn như thế này vài ba lần.  Bên trái tôi là một cô gái có thân hình sớm nây nở mà bộ đồng phục nhà trường không thể khỏa lấp hết, khiến người ta nghĩ đến một nhành hoa được bó trong giấy trắng có buộc nơ ở ngoài. Cô cưỡi trên cái đèo hàng của chiếc xe Thống Nhất sơn mầu xanh nước biển còn rất mới, hai bàn chân đi giầy vải phủ đầy bụi đỏ cứ dậm lên dậm xuống như đang gõ nhịp trên mặt đường, dáng điệu rất nghịch ngợm. Nét mặt cô cũng nây nở như thân hình cô. Một lớp lông măng rất nhẹ phủ trên làn môi cong cong như đang cố nhịn cười.

Những thiếu niên khác cũng tươi đẹp chẳng kém. Tất cả đều im lặng chờ mìn nổ. Tôi bỗng nhớ đến lũ trẻ ngồi trên tảng đá cổ Sa Pa; nhớ đến hai đứa gái một béo một gầy ở gần động Từ Thức, và nhiều đứa bé khác nữa mà tôi đã gặp trên những nẻo xa nhà, và cái ý nghĩ về bọn trẻ vẫn vương vấn trong đầu tôi bấy lâu nay lại xốn xang trở lại. Nó là cái gì ấy nhỉ?

Tiếng mìn nổ trầm, vang trên lũng sông. Một tiếng. Hai tiếng. Ba tiếng. Khói trắng bốc lên từ phía sau vách núi trước mặt, như thể núi đang thở dài chịu thua. Một đoạn đường mới đang được mở thêm rồi. Tôi nhìn ra xung quanh. Những gương mặt thiếu niên bỗng hiện lên thật trang nghiêm, thật tự tin, mà vẫn thật thơ ngây, hồn hậu, và đẹp đẽ vô cùng. Và chính vào giây phút ấy, ở quãng đường nổ mìn ấy, cái ý nghĩ mơ hồ kia của tôi về bọn trẻ đã tìm được tên gọi. Nó không chỉ là một ý nghĩ, mà là một quan niệm, một lẽ phải hẳn hoi.

Đó là cái lẽ “Kính trẻ-Yêu già.”

Phải rồi, xã hội phải biết kính trọng tuổi trẻ và yêu quí tuổi già.

Chẳng phải thế mới là hợp lẽ tự nhiên đó sao? Người Trẻ đáng được kính trọng, vì chúng là tình yêu, là nguồn sáng tạo, là tương lai, là sức mạnh, là những gì đẹp đẽ hồn nhiên nhất. Còn người Già, chao ôi, chẳng phải tuổi già chỉ thèm được quấn quýt yêu chiều đó hay sao? Thế mà ta cứ dạy nhau phải “yêu trẻ kính già”! Có phải vì vậy mà mọi việc cứ loay hoay lúng túng, mãi chưa được thuận hay chăng?

Nghĩ đến đấy, tôi lại sực tỉnh ra: cái lẽ “Kính trẻ-Yêu già” này của tôi cũng là “cũ người mới ta” đấy thôi. Trẻ con ở nhiều xứ khác đã được kính trọng từ lâu rồi: Ở nhà thì không sợ bố mẹ đánh mắng dọa nạt, làm gì cũng được dự bàn và có quyền quyết định của mình. Đến trường thì được dạy để hiểu chứ không để thuộc, để có ý kiến riêng chứ không phải nghĩ theo nói dựa… Nhưng mà, hình như dân mình cũng chẳng phải là không biết đến cái lẽ “Kính trẻ-Yêu già”. Đấy, hơn 600 năm trước các vua Trần đã biết sớm giao việc nước cho tuổi trẻ đảm nhiệm. Như thế thì cái lẽ “Kính trẻ-Yêu già” cũng đã có truyền thống ở mình chứ đâu phải là “cũ người mới ta”. Chỉ vì ta hay quên, nên mới thường ngộ nhận lẽ phải là ngược đời đấy thôi. Mà còn phải nghĩ kĩ cả về chuyện Yêu là thế nào và Kính là ra làm sao nữa. Có khi ta cũng quên cả cái chân nghĩa của hai từ này rồi cũng nên?

Với những ý nghĩ còn ngổn ngang đó, tôi hì hục vác xe bước thấp bước cao qua đoạn đường cũng đang ngổn ngang chẳng kém. Nhưng dù sao, tôi vẫn tin “Kính trẻ-Yêu già” là phải lẽ.

Khói mìn đã tan thành những vẩn mây trắng đục bay lên cao. Những tảng đá mầu hồng mới văng ra từ sườn núi còn như đang nghi ngút thở. Tôi đứng lại, giả bộ thít chặt mấy cái nút buộc tay nải sau xe, nhưng thực ra là để cho bọn thiếu niên học sinh kia vượt lên trước. Tôi muốn được nhìn thấy toàn cảnh chúng đi với nhau thành một đoàn sáng bừng trên con đường đầy những tảng đá hồng còn hôi hổi ấy.

 

Hà Nội, ngày 1 tháng 12 năm 2004

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s