Cụ chùa

Tôi có bà bác mới mười ba tuổi đã nhất định vào chùa làm chú tiểu. Lúc tôi ba bốn tuổi, bắt đầu có kí ức, thì bác đã thành sư cụ cai quản hẳn một ngôi chùa. Trong nhà, mọi người đều gọi bác là Cụ chùa.

Lần đầu được bố đưa vào thăm Cụ chùa, tôi mới học vỡ lòng thì phải. Còn nhớ lúc mới nhìn thấy Cụ, tôi không biết Cụ già hay trẻ, là đàn ông hay đàn bà, chỉ thấy Cụ giống pho tượng Phật gầy trơ xương sơn mầu cánh gián ngồi tựa cằm lên đầu gối ở trong chùa. Khác một điều, mắt tượng Phật thì như bố tôi nói, lúc nào cũng “không lim dim, không nhắm, không mở, không đờ”, còn mắt Cụ chùa tôi thì rất tinh, lúc nào cũng nheo nheo cười cười, mí mắt bên trái hay giật giật như người bị máy mắt kinh niên. Cụ chùa gọi bố tôi là “cậu”, và gọi tôi là “thằng chó con ngoan nhỉ”, giọng rất nhỏ nhẹ. Lúc ấy ngoài thềm nhà tổ có một đàn năm sáu con chó con mũm mĩm đang rúc rích nằm sưởi nắng quanh mẹ, trông rất thích mắt. Yên trí là mình với bầy chó con kia đều được Cụ chùa yêu chiều như nhau, tôi không thấy sợ ngay cả khi một mình lò mò quanh những bức tượng khổng lồ với đủ các bộ mặt khác nhau trong gian điện thờ Phật mát lạnh và tôi tối, dưới những tia nắng xiên vào qua các lỗ cửa cao cuồn cuộn những hạt bụi li ti như khói. Tôi đặc biệt nhớ gương mặt xanh lét của bức tượng Quỉ, chỉ to gần bằng tôi, với hai con mắt lồi tròn xoe rất sinh động và cặp sừng nhu nhú trên đầu. Ấy cũng chỉ vì nó mà hôm nay tôi mới ngồi viết lại câu chuyện này.

***

Đến năm lớp bốn thì tôi đã rất quen với Cụ chùa và các đồ đệ của cụ là thầy Đức, bà vãi Bê, và chú tiểu Ngọc.

Thầy Đức cũng là đàn bà, gương mặt phúc hậu, người tầm thước, da dẻ sáng sủa, giọng nói trong trẻo dễ dãi, có việc ra phố là thể nào cũng đạp chiếc xe Peugeot đến thăm chúng tôi, lần nào cũng mang theo nải chuối, túm nhãn, chùm khế, mớ hồng bì, rổ ổi hoặc mấy cỗ oản gọi là lộc nhà chùa. Có lần tôi giúp thầy chép mấy đoạn kinh Kim Cương, nên được thầy rất nuông chiều mỗi khi vào chùa. Những lúc thấy thầy Đức cung kính “bạch cụ” một cách thật vui vẻ tự nhiên, còn Cụ chùa tôi thì từ tốn căn dặn thầy từng việc, tôi cảm thấy rất yên bình và chỉ muốn làm một việc gì đó thật tử tế để Phật biết đến.

Bà vãi Bê cũng rất cưng chiều tôi. Có lẽ năm ấy bà đã trên sáu mươi. Da bà nâu sậm, gương mặt rắn rỏi giống một quả trám luộc mới vớt ra khỏi nồi còn bóng loáng, đầu buộc một cái khăn mỏ quạ, mắt nhỏ sáng long lanh, cái miệng móm tịt hình như chả còn cái răng nào. Phải quen rồi mới nghe thủng bà nói gì, mà phần lớn tôi vẫn cứ phải đoán già đoán non. Bàn tay phải của bà có một ngón thứ sáu mọc choẽ ra từ ngón cái và vòng lên như cái lưỡi câu, lúc đầu làm tôi phát khiếp. Bận bịu trăm thứ việc không tên trong chùa, nhưng bà Bê vẫn lo cơm nước mâm bát cho Cụ Chùa hàng ngày, và hễ thấy tôi vào là thế nào cũng bạch Cụ cho dọn món su su luộc và sung muối cho tôi ăn.

Dạo ấy tôi cứ tưởng chú tiểu Ngọc là con trai, và chắc chỉ hơn tôi bốn năm tuổi. Người chú luôn có mùi bồ hòn, hai bàn tay rất ấm. Có lần tôi trèo cây nhãn ngoài vườn chùa, lúc xuống thì hai tay cầm mấy túm nhãn, lúng túng không biết bám víu thế nào để đu từ chạc cây xuống đất. Chú tiểu Ngọc đang vun mấy luống xu hào gần đấy, thấy thế liền chạy đến, bảo “Nào, cậu cứ nhảy xuống, tôi đỡ cho.” Tôi làm theo, và thấy mình đứng gọn trong vòng tay ấm áp của chú. Vì thấp hơn chú, nên mặt tôi sát ngay ngực chú, thấy mềm mềm cồm cộm và toàn mùi bồ hòn. Lúc đó tôi có cảm giác rất lạ, và đột nhiên nhớ ra rằng chú là con gái. Hai tay tôi khư khư mấy túm nhãn và giang ra như tay bù nhìn. Chú xiết chặt tôi một cái rồi buông ra ngay, chẳng nói chẳng rằng, chạy ù ra mấy luống xu hào.

Hồi đó, tôi chẳng bao giờ thắc mắc xem thầy Đức ở đâu mà ra, bà Bê tại sao lại thành vãi ở luôn trong chùa, và chú tiểu Ngọc là con cái nhà ai. Trong đầu óc non nớt của tôi, chùa của bác tôi là phải có những người ấy, cũng như trên ngai là phải có tượng vậy.

Năm lớp bốn ấy của tôi có nhiều việc đáng nhớ. Nào là việc tôi không đủ tuổi lên lớp năm, đành ở lại lớp bốn với tụi lớp ba mới lên; việc các chú bộ đội Cụ Hồ mới về giải phóng thủ đô đến tận trường dạy chúng tôi hát “Đoàn quân Việt Nam đi”, và những bài hát khác như “Qua miền Tây Bắc”, “Giải phóng Điện Biên”; việc những người họ hàng là bộ đội hoặc cán bộ kháng chiến thay nhau về ở với gia đình tôi; rồi việc xưởng gỗ của gia đình tôi phải đóng cửa… Ấy thế mà cho đến nay, gần nửa thế kỉ đã qua đi, mỗi lần nhớ lại cái năm lớp bốn ấy, tôi chỉ nhớ nhất cái hôm tôi vào chơi rồi ngủ lại qua đêm ở chỗ Cụ chùa trong dịp nghỉ hè.

Vào chùa cùng với bố từ chiều, tôi mê mải theo chú tiểu Ngọc đi lau chùi hai pho tượng hộ pháp khổng lồ trên điện, rồi theo bà Bê đi rút rơm ở cây rơm đánh cao chất ngất trong sân sau chùa để đun bếp nấu cơm. Đến bây giờ tôi vẫn nhớ cây rơm giống như một con thú khổng lồ rất hiền, người nó ấm áp, để mặc cho tôi với bà Bê nhổ lông. Bên cạnh cây rơm là một cây thị cổ thụ tán rộng, quả vàng lúc liểng, với những đàn kiến bồng nối đuôi nhau bò trên những cái rễ ngoằn ngoèo. Ngay sát gốc thị đã là bờ ao, mặt nước phủ đầy bèo tây. Bên kia ao là ruộng lúa của chùa. Rồi đến ruộng làng. Cánh đồng chạy ra rất xa, mãi đến rặng tre của làng nào đó cách phải vài cây số. Lúc ấy, mặt trời đang lặn xuống đến rặng tre làng đó. Tôi có thể nhìn nó mà không chói mắt. Hơi ấm của những tia nắng chiều tràn ngập trên mặt tôi, cổ tôi, hòa với cái nồng nàn ẩm ướt của đụn rơm, làm cho cõi lòng con trẻ của tôi cũng phải bâng khuâng.

“Định ơi, bố phải về đây, con có muốn ngủ lại chùa đêm nay không?”

Bố tôi đã đứng ngay sau lưng tôi từ lúc nào tôi không biết. Bà Bê móm mém: “Chậu Đnhịnh nhủ nhại nhùa đnhi, đnhêm nhay chnhăng nháng nhắm!” Hai tay bà vẫn thoăn thoắt rút rơm xoàn xoạt. Tôi đồng ý ngay. Không phải vì tôi chưa bao giờ thấy trăng sáng ở nhà quê. Cũng không phải tôi có lí do gì khác. Tôi chỉ nói “ Vâng” một tiếng, chẳng nghĩ gì nhiều. Đơn giản vậy thôi. Chuyện đời thường bắt đầu đơn giản và gần như vô tình như vậy cả. Bố tôi bảo: “Bà Bê nhớ cho cậu tắm giếng rồi hãy ăn cơm đi ngủ nhá.” Ông xoa xoa đầu tôi mấy cái, rồi quay người bước về phía cái cổng gạch để vào lại chùa. Mấy phút sau, tôi nghe tiếng cái xe Renault deux cheveaux của ông nổ máy rồi đi xa. Tôi thoáng cảm thấy sợ vì chỉ còn lại một mình, nhưng cảm giác ấy qua đi ngay.

***

Cái giếng tròn xếp bằng những hòn đá to tướng và thành xây bằng gạch vồ cũ kĩ ở ngay sân trong, gần cái cổng gạch ra sau chùa, sát dưới cửa sổ phòng ở của thầy Đức với chú tiểu Ngọc. Nhà tắm gần ngay giếng, sát cái cổng gạch ra sau chùa, chỉ là một góc tường có lợp tranh với một tấm phên dùng làm cửa.

Không hiểu sao tôi thấy kinh kinh không muốn chui vào cái nhà tắm kia, tưởng tượng chẳng có đàn ông con trai nào vào đấy bao giờ. Tôi kéo nước và đứng tắm ở ngay cạnh giếng. Nước giếng mát lạnh làm tôi nổi da gà. Nhưng sau gáo nước thứ hai thì cảm giác mát lạnh ấy trở thành rất khoan khoái. Tiếng bà Bê nhọng nhịu từ trong bếp vọng ra. Mùi lửa rơm ấm áp ở ngay gần. Ba con chó, một mực, một vàng, một vện, nằm lim dim trên thềm bếp nhìn tôi tắm. Tôi mặc quần đùi vải trắng chấm đỏ, dội nước ào ào, lần nào thả gầu xuống cũng sợ tuột tay. Giếng sâu chừng 3 thước tây từ thành gạch xuống mặt nước. Sợi giây gầu đã cũ lắm, đen nhẻm và trơn tuột ở nhiều chỗ vì có rêu bám. Cái gầu bằng thiếc méo mó, có ngáng gỗ, mỗi lần cầm lấy cái ngáng ấy tôi cứ có cảm giác như nó đang cười và lẩm bẩm rằng này thằng nhóc, lần sau thể nào mày cũng đánh rơi tao. Những viên gạch lát sân quanh giếng rất to và dầy, nhiều viên đã nứt vỡ thành nhiều mảnh, cỏ xanh mọc lên từ các khe nứt ấy, và mấy con sên nhỏ xíu hay bám ngay cạnh đó.

“Tắm ù lên kẻo lại lạnh đấy con,” tiếng Cụ chùa làm tôi giật mình. Tôi dạ một tiếng rõ to, rồi kéo mấy gầu đổ vào cái thau đồng đặt trên một cái giá ba chân để mọi người cùng dùng. Khi với tay lấy cái khăn móc ở bậu cửa sổ, tôi bỗng giật thót mình. Từ sau khe cửa sổ hé mở, trong bóng tối của căn phòng, hai con mắt chú tiểu Ngọc đang nhìn tôi chằm chằm. Cả hai chúng tôi đều vội vàng nhìn đi chỗ khác. Tôi lóng ngóng lau người, rồi cầm quần áo chạy tọt vào gian phòng khách gần cửa ngoài đã có cái giường dọn sẵn cho tôi. Tôi khép cánh cửa bức bàn nặng chịch rồi vừa mặc quần áo vừa run lẩy bẩy, người lạnh cóng cả lên. Vị nước giếng đọng lại tận trong cuống họng bỗng ngăn ngắt xông lên tận mũi, làm tôi như ngạt thở. Tôi vội vàng rót nước vối nóng ủ trong ấm rỏ ra cái chén tống, rồi hổn hển uống từng ngụm. Uống hết chén nước, tôi mới thấy người ấm lại, hết run. Mọi thứ chẳng có gì rõ rệt trong lòng tôi lúc ấy. Tôi bước ra ngoài thềm nhà tổ. Đỉnh trời vòi vọi đã ngả tím. Rất nhiều chuồn chuồn ớt đang bay lượn lúc thấp lúc cao. Thế rồi tôi nghe một tiếng chuông chùa cất lên. Rồi một tiếng tiếp theo. Một tiếng tiếp theo nữa… Những con chuồn chuồn dạt lên cao, tản ra rồi tụ lại, như thể chúng bị làn âm thanh ngân nga kia dâng lên hạ xuống như bọt sóng mà tôi đã từng thấy ngoài Đồ Sơn. Không nhìn thấy, nhưng tôi biết chính chú tiểu Ngọc đang thỉnh chuông chiều. Chuỗi âm thanh ngân nga ấy bỗng làm cho tôi buồn vô hạn. Tí nữa thì tôi khóc. Chẳng hiểu tại sao lại thế.

***

Tôi không nhớ mình đã được Cụ chùa đãi những món gì tối hôm đó. Chỉ nhớ lúc bưng mâm cơm lên với lúc dọn mâm đi, chú tiểu Ngọc chẳng nhìn tôi lấy một lần, và cũng chẳng nói chẳng rằng, như thể chúng tôi chưa nói chuyện với nhau bao giờ.

Tôi nhớ đã cố chờ trăng lên, nhưng rồi ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Lúc tôi thức giấc thì ánh trăng đang ùa qua cửa sổ vào thẳng chỗ tôi nằm. Từ lúc ấy trở đi thì tôi nhớ rõ lắm. Đã bao nhiêu năm, mà hễ cứ nghĩ đến cái đêm ấy là tôi thấy mình lại như thằng nhóc lên 9 đang thức dậy một mình giữa luồng ánh trăng như bạc đang ùa vào qua ô cửa sổ, sáng đến nỗi ngọn đèn dầu trên bàn trông như đã tắt. Tiếng ếch nhái côn trùng râm ran. Bọn đom đóm lập lòe dưới những lùm nhãn tối như cuống quít vì trăng sáng quá. Tôi có cảm giác như mình đã thức dậy vì có người gọi, và thấy tỉnh táo lạ thường, không thể ngủ lại được. Tôi ngồi dậy, xỏ dép mở cửa bước ra sân, cảm giác như mình là một cụ già phải đi lo một việc gì đó.

Đứng giữa ánh trăng vằng vặc, tôi cảm thấy như mình đang lơ lửng trên mặt đất. Tôi hít một hơi thật dài, rồi thở ra thật chậm. Bố tôi thường nói thở kiểu ấy là cách nói chuyện với thiên nhiên hay nhất. Khi tôi đã dồn hết hơi ra ngoài, thì bỗng cảm thấy có ai đang nhìn mình. Cảm giác ấy làm tôi suýt hụt hơi. Tôi đứng im, để mặc cho không khí ùa trở lại hai lá phổi trống rỗng, rồi từ từ nhìn quanh. Dẫy hậu điện im lìm. Trên thềm nhà bếp, mấy con chó cuộn tròn ngủ im thin thít. Suốt dọc hành lang từ nhà bếp qua nhà tổ không có một ai, ngoài hai chấm lửa đèn dầu bằng hai hạt đỗ thắp trên ngai thờ tổ chìm trong bóng tối vì ánh trăng không vào được đến đó. Đến chỗ căn phòng tôi ngủ, cánh cửa bức bàn vẫn để mở, và tôi thấy bức tượng quỉ xanh lè vẫn để trên điện chính đang ngồi ngay ở đó, trên cái bậc cửa ấy. Không hiểu sao, tôi chẳng sợ hãi chút nào. Cũng không ngạc nhiên. Ban đêm mọi thứ thường sống dậy, và con quỉ ra ngồi ở đó thì đã sao? Hoặc giả tôi quáng mắt? Tôi nhìn nó chằm chằm một lúc mà nó vẫn không biến đi. Tôi bước lại gần. Nó vẫn ngồi đó, đôi mắt lồi long lanh dưới ánh trăng, đầy những tia máu đo đỏ, nhìn tôi rất tử tế và tò mò; bộ mặt có vẻ đỡ xanh lét hơn dưới ánh trăng, cái sừng nhu nhú trên đỉnh đầu có vẻ như đang động dậy.

“Tôi ra chơi với cậu một lát,” con quỉ nói, giọng nó ấm áp, rất giống giọng bố tôi. “Tôi có nhiều trò hay lắm, nhưng nếu cậu sợ thì tôi lại về làm tượng ngay. Thế nào, cậu chơi với tôi chứ?” Tôi thấy mình vội vàng gật đầu, và ngồi ngay xuống cạnh nó. Con quỉ không có tí hơi ấm nào tỏa ra, nhưng nó cũng không gây cho tôi cảm giác ghê ghê nào như khi phải ngồi cạnh một con vật ướt át lạnh lẽo. Tôi rất muốn sờ vào người nó, nhưng không dám. Nó cười. Đó là lần duy nhất trong đời tôi thấy một con quỉ cười. Nụ cười nó rạng rỡ, khiến cho hai con mắt lồi có vẻ hiền hẳn đi. Phải, hai con mắt lạ thật. Tôi tưởng tượng nếu không có hai con mắt thì mặt nó chẳng ra dữ tợn cũng không thể ra hiền lành, cho dù cái răng nanh hay cái lưỡi có thò ra mấy cũng vậy. Nhiều năm sau này, tôi vẫn thường lén nhìn mình trong gương, cố làm cho mắt mình có những vẻ khác nhau xem sao, mà thật khó.

“Lần sau có vào lau chùi tượng thì cậu quệt cho tôi mấy nhát với nhé,” con quỉ nói, lần này thì giọng nó hệt như giọng chú tiểu Ngọc. Lạ thật. Tôi vội vàng gật đầu, không biết xưng hô với nó thế nào. Con quỉ chắc phải già lắm rồi, nó đã ở chùa này từ hàng trăm năm chứ có ít đâu. Thấy tôi lúng túng, nó bảo chúng mình cứ cậu tớ với nhau đi, cậu là học trò, tớ chỉ hơn cậu một bậc nghịch ngợm thôi. Tôi mỉm cười: Cậu hơn tớ hai bậc chứ, nhất quỉ, nhì ma, thứ ba mới đến học trò như tớ. Hoan hô, nó nói, cậu khá lắm, để tớ thưởng cho cậu nhá. Con quỉ giơ bàn tay loắt choắt của nó ra trước mặt tôi. Lập tức, cái bàn tay ấy xòe rộng thành một cái bánh xe quay tít trước mắt tôi. Tôi thấy mình bay lên, nhẹ nhàng và như thể mình chỉ là một con đom đóm. Vụt một cái, tôi thấy mình lơ lửng trong gian phòng của thầy Đức và chú tiểu Ngọc. Cửa sổ nhìn ra sân giếng vẫn hé mở, ánh trăng lọt vào thành một vệt chéo qua chiếc phản gỗ rộng mênh mông. Chú tiểu Ngọc nằm ngửa dưới vệt trăng ấy, đầu nghoẹo về phía cửa sổ, hai tay úp trên bụng, hai chân giang rộng. Mùi bồ hòn thoang thoảng bỗng tràn ngập căn phòng. Tôi lượn quanh bên trên chú, con đom đóm thằng bé lên 9, trong bụng nôn nao. Chú vẫn mặc bộ quần áo nâu rộng thùng thình, nhưng khuy áo tuột gần hết, để lộ một bên ngực trắng đến chói mắt dưới vệt trăng như lưỡi dao xuyên qua phòng. Ấy là cái đã khiến tôi thấy mềm mềm cồm cộm hôm chú xiết chặt lấy tôi ngoài gốc nhãn. Nó cũng nhú lên và như thể đang động đậy như chiếc sừng của con quỉ, nhưng không xanh lét, mà trắng ngần; nó cũng không lì lì, mà nở ra một cái núm như bông cúc chúm chím bà ngoại tôi vẫn thường dùng để pha trà. Con đom đóm lượn xuống gần chú tiểu. Nó cảm thấy hơi ấm của chú phả lên như những làn sóng kế tiếp nhau. Nó rất muốn được bậu lên cái núm vú của chú, nhưng nó bỗng thấy hoang mang, nó muốn có tay, có chân, muốn là thằng bé đang dội nước giếng chứ không phải một con đom đóm bé xíu vô duyên như thế này. Đúng lúc ấy, vụt một cái, tôi thấy mình lại ngồi cạnh con quỉ đang cười.

Để tôi cho cậu xem nhé, nó nói, lần này thì nhỏ nhẹ hệt như giọng Cụ chùa tôi. Chưa kịp đáp, tôi đã thấy nó khoát tay trước mặt tôi và một màn sương mù lập tức hiện ra. Tôi thấy một hình người trần truồng đang đứng dội nước tắm. Chính là tôi. Rồi thấy chú tiểu Ngọc, cũng trần truồng, trắng phau, hai núm vú hồng hồng, đang kì cọ cho tôi. Tôi cố giữ tay chú lại, nhưng chú cứ lùa xuống chỗ ấy, như thể nó là một củ khoai phải được cọ rửa thật sạch trước khi ăn sống hoặc bỏ vào nồi luộc. Tôi thất rất khó chịu, rất hoang mang, rất khó thở… Tôi đưa cả hai tay lên bịt mắt, nhưng cảnh tượng tôi với chú tiểu Ngọc lại càng rõ rệt hơn. Rồi bất thình lình, mọi thứ lại biến mất. Mấy con chó vẫn khoanh tròn ngủ say tít dưới đầu kia của hành lang trước mặt tôi.

Đấy là chú tiểu đang nằm mơ đấy, cậu có muốn xem Cụ chùa nhà cậu đang mơ thấy gì không? con quỷ nói . Thôi đi đã, tôi hổn hển, cậu làm tớ sợ. Cậu sợ cái quái gì? Cụ chùa mà biết tớ với cậu thế này thì làm thế nào? Biết thế nào được mà sợ! Chẳng phải Cụ chùa cai quản cậu và cả các thần phật khác ở đây sao? Làm gì có chuyện ấy. Cậu còn bé quá, không hiểu được đâu. Thế sao cậu lại ở đây? Thì họ cần tớ, lạy tớ thì tớ ở cho vui thế thôi. Với lại thỉnh thoảng lại được chơi với những thằng như cậu, cũng hay ra phết. Thế Phật không phạt cậu à? Phạt rồi lại thưởng, tớ sợ gì. Tớ chẳng hiểu gì cả. Thế này nhá: ở lớp cậu thích được điểm cao, thích được là học sinh giỏi, có phải không? Thì có liên quan gì đến chuyện này? Từ từ đã nào. Thế không có thằng nào dốt thì cậu giỏi với ai? Cậu phải thưởng cho thằng dốt mới đúng, vì có nó cậu mới thành thằng giỏi.

Tôi ngồi đần mặt, chẳng biết nghĩ thế nào.

Con quỉ nói tiếp: Thành ra Phật phải thưởng tớ để tớ ở lại. Không có tớ thì Phật cũng chẳng tốt được với ai. Chỉ bực là mọi người chỉ biết dậy nhau khinh ghét Quỉ, nịnh nọt Phật. Nhẽ ra phải biết nể trọng cả hai. Tớ với Phật đã giao kèo với nhau rồi, nhưng vì tớ không đọc kĩ hợp đồng nên Phật mới gài một khoản là hai bên cùng thỏa thuận sẽ không tiết lộ giao kèo này cho loài người biết. Thành thử tớ chỉ dám nói với những thằng chưa ra người như cậu thôi. Tớ cứ dặn cậu nhá: hễ Quỉ này mà đi là Phật cũng đi mất đấy.

Lúc ấy tôi chẳng hiểu Quỉ nói gì, thế mà đến giờ vẫn nhớ như in những lời ấy của nó. Nhất nữa là giọng nó lúc ấy lại giống hệt giọng cô giáo tôi. Chắc trông tôi lúc ấy ngớ ngẩn lắm. Quỉ liền bảo: Tớ xin lỗi, nhưng mà sau này cậu sẽ hiểu những lời tớ vừa nói. Nhưng mà thôi, để tớ cho cậu xem Cụ chùa nhà cậu đang mơ thấy gì nhá?

Tôi chưa kịp đáp thì bỗng có tiếng chó sủa rộ lên, rồi tiếng bà Bê nhóng nhéo dưới bếp, tiếng cánh cửa mở ra đóng vào ken két. Con quỉ biến mất tăm, như thể nó chưa bao giờ ngồi ở đó. Chỉ có tôi đang ngồi thần ra ở bậc cửa một mình. Mãi tôi mới đứng dậy đi vào phòng, vén màn trèo lên giường như một kẻ mộng du. Nhưng tôi không nằm mơ. Mọi chuyện vừa xẩy ra không thể là mơ được. Và tôi không thể ngủ lại.

***

Gần hai chục năm bôn ba xa nhà, tôi đã biết tin bà Bê qua đời. Rồi đến tin thầy Đức tự thiêu chết ngay trong căn phòng của thầy ở chùa. Tôi đã khóc hết nước mắt vì thương thầy Đức quá thể. Nhiều lần tôi nằm mơ thấy thầy gào khóc trong đống lửa, muốn lăn vào lôi thầy ra mà không sao nhấc nổi chân tay. Họ hàng xôn xao, không muốn thiên hạ biết chuyện Cụ chùa tôi giam hãm không cho thầy Đức đi trụ trì một chùa khác và cứ bắt nạt thầy hết chuyện này đến chuyện khác, đến mức thầy không còn thiết sống nữa. Rồi đến lượt Cụ chùa qua đời. Mấy người cháu Cụ cứ tưởng Cụ lắm của để lại, đã hằm hè nhau. Đến khi vỡ nhẽ là Cụ chẳng có gì chôn dấu trong chùa mới thôi. Còn chú tiểu Ngọc thì ở nhà bảo rằng Cụ chùa đã cho đi sang chùa khác mấy năm trước khi thầy Đức tự thiêu.

Kể từ cái đêm sáng trăng gặp Quỉ trong chùa cho đến nay đã gần nửa thế kỷ. Hình như tôi đã thành một thằng người với đủ lệ bộ và những vấn đề cố hữu của nó. Và hôm nay, tôi thấy mình lại đang đứng trong cái tôi tối mát lạnh của tòa điện chính, dưới những luồng nắng cuồn cuộn bụi li ti đang xiên xuống qua những lỗ cửa trên cao. Tất cả thần Phật và Hộ Pháp vẫn còn nguyên đó, nhưng bức tượng Quỉ thì không thấy đâu. Ở chỗ của nó bây giờ có một pho Địa Tạng sơn nhũ vàng trông rất ngây ngô, bức tường đàng sau đầy những ảnh người chết được gia đình “đưa lên chùa”. Một chú tiểu chừng 13, 14 tuổi, chắc cũng là con gái như chú tiểu Ngọc ngày xưa, đang phủi bụi pho Địa Tạng ấy bằng một cái phất trần sợi ny-lông xanh lè.

Này chú, tôi lên tiếng, có pho tượng Quỉ một sừng vẫn ở chỗ này, bây giờ đâu rồi? Dạ thưa, con không biết, chú đáp, giọng lễ phép, từ lúc con về hầu Cụ ở đây đã không thấy rồi ạ. Thế Cụ chú tên gì, có nhà không? Dạ thưa, Cụ con tên Ngọc, một lát nữa Cụ con sẽ về ạ, để con xin mời ông lên nhà xơi nước.

Tôi giật nẩy mình, đứng im một lúc, rồi ra hiệu cho chú tiểu đừng phải bận đến tôi. Tôi loanh quanh trong gian điện chính ấy một hồi lâu, không muốn ra ngoài. Tôi đã dạo qua một vòng rồi, cảnh vật bên ngoài đã hoàn toàn khác lạ. Toàn bộ dãy nhà tổ, nhà khách, hậu điện, đã được xây lại hết, dùng toàn bêtông, đá, gạch men. Ngôi chùa mấy trăm năm không còn nữa rồi. Bức tượng Cụ chùa tôi trên nhà tổ trông thật ngớ ngẩn, sơn dầu bóng loáng, mặt mũi tô vẽ nguyệch ngoạc đến lạ. Phòng ở của chú tiểu và sư thầy thấy có lắp điều hòa hai cục. Phòng của sư cụ bây giờ ở hậu điện cũng có điều hòa hai cục nhưng to hơn, và sàn nhà lát toàn gạch Viglacera bóng nhoáng. Các bệ thờ đều lát gạch men bóng mầu đỏ, mầu trắng, mầu đen. Trước ban thờ nào cũng có một cái hòm gỗ sơn đỏ, nổi bật dòng chữ vàng bằng cả quốc ngữ lẫn tiếng Anh: “Hòm công đức”—“Box of Kindness”. Cái giếng tôi tắm ngày xưa đã bị lấp đi rồi, thay bằng một cái ống nước có máy bơm chọc lên cao vào một cái thùng chứa inox sáng loáng. Gian bếp ấm cúng lửa rơm của bà Bê, với những dàn phên tre cật lên nước bóng như sơn cánh gián chạy khắp xung quanh để úp mâm bát và nồi niêu, nay đã thành một phòng bếp sáng choang với các vật dụng hiện đại, trông như của khách sạn. Rặng nhãn và ruộng rau đã biến thành một cái sân lát bêtông có chừa lại mấy ô đất trồng lộc vừng với thiên tuế. Cây thị cổ thụ nay đã bị cưa bớt đi, trông như người cụt chân cụt tay. Cái ao bèo cũng đã thành sân bêtông có ghế làm bằng granitô cho khách ngồi chơi quanh mấy cây tháp tổ chùa. Không còn chuồng lợn. Không còn ruộng chùa. Mà cánh đồng làng cũng đã thành một khu ngõ ngách đầy những nhà ống đủ kiểu lô nhô chen chúc nhau. Chùa đã có tường bao bọc khắp xung quanh, trên cắm mảnh trai.

Tôi bỗng thấy khát, bèn lững thững bước ra ngoài, lên chỗ cái bàn nước kê ở chính cái gian cạnh nhà tổ, nơi tôi đã ngủ lại chùa ngày xưa. Vừa nhấp được mấy ngụm vối nóng (phải, vẫn còn nước vối nóng), tôi nghe tiếng xe máy chạy thẳng từ ngoài cổng vào chỗ tôi ngồi. Chiếc xe dừng lại ngay cạnh tôi, hơi nóng của động cơ phả vào chân tôi hôi hổi. Một chiếc Dream II mầu mận chín bóng loáng. Bàn chân đang đặt xuống đất đi giầy thể thao trắng, rồi ống quần lụa nâu mềm mại, rồi tà áo nhà chùa cùng thứ vải như thế, bàn tay đặt trên tay ga rất đầy đặn, nhìn biết ngay là tay đàn bà. Tôi không muốn ngẩng hẳn lên, vì cảm thấy người đàn bà ấy đang nhìn tôi chăm chú.

“Bạch Cụ đã về ạ,” tiếng chú tiểu lanh lảnh, “cụ để con cất xe ạ.”

Tôi đứng lên và nhìn Cụ chùa đang đưa chiếc xe cho chú tiểu. Khi Cụ quay lại, tôi nhận ngay ra chú tiểu Ngọc ngày nào. Vẫn đôi mắt ấy, vẻ mặt ấy, dáng người ấy, tuy có đầy đủ hơn, dầy dặn hơn, đĩnh đạc hơn rất nhiều. Và rất phong trần. Nhưng không có mùi bồ hòn, mà thoang thoảng mùi xà phòng Camay. Chú tiểu Ngọc đã thành Cụ chùa thời hiện đại rồi. Và cũng như tôi, chú đã thành một chị người với đầy đủ lệ bộ và những vấn đề cố hữu của nó.

“Chào chị Ngọc,” tôi khẽ nói.

Cụ chùa óng ả nhìn tôi giây lâu, vẻ mặt rất tự tin và bạt thiệp lúc đầu dần dần chùng xuống, thoáng thảng thốt, thoáng bồn chồn, rồi bỗng sáng rực lên trong một nụ cười mếu máo: “Ôi giời ơi… có phải cậu Định đấy không?” Vẫn là giọng nói ấy, như hồi tôi nhẩy từ trên cây nhãn xuống, nhưng âm sắc đã nhuốm thời gian biết mấy mươi mùa mưa nắng xa vời. Cụ chùa khóc thật. Nhòa cả hai con mắt, khóe miệng bỗng già hẳn đi. Rồi Cụ lại cười, vừa cười vừa quệt nước mắt bằng cả hai mu bàn tay. Tôi đứng im, trong lòng bỗng bâng khuâng vô cùng. Đấy, mới hồi nào tôi còn hoang mang sợ hãi khi bay lơ lửng trên bầu vú sáng bừng ánh trăng. Rồi tôi nhớ đến con quỉ đã hóa phép cho tôi thấy giấc mơ của chú tiểu Ngọc ngày ấy. Quỉ ơi, giờ này cậu ở đâu?

***

Tôi chẳng muốn viết lại những gì tiếp theo đó. Tôi đã có kinh nghiệm rồi, không nên viết những chuyện chẳng ra đâu vào đâu, hoặc những chuyện cứ khiến cho mình thành ác khẩu hoặc cạnh khóe người đời chẳng ra sao cả. Tôi chỉ muốn ghi lại một chi tiết thôi. Ấy là buổi chiều hôm đó, sau khi tôi đã ăn với Ngọc một bữa cơm chay làm hệt như cơm mặn và đang nhâm nhi li cà-phê Trung Nguyên trong khi chú tiểu thỉnh chuông chùa hội nhập cùng tiếng loa phóng thanh của xóm và tiếng TV nheo nhéo từ các căn nhà ống khắp xung quanh chùa, Ngọc đã bảo: “Cậu ngủ lại đêm nay nhá, sẽ có trăng sáng lắm đấy.” Lúc ấy tôi lại nghĩ đến bức tượng Quỉ xanh lét đã không còn ở trong chùa nữa. Nó đã đi rồi. Đi từ lâu rồi thì phải.

 

Hà Nội, một đêm gió bấc cuối năm 2004

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s