Picasso – Guernica (Phần IV)

Picasso lớn lên trong một đất nước đã bị chia cắt từ lâu trước khi rơi vào nội chiến. Có một Tây Ban Nha đã chấp nhận hội nhập với thế giới hiện đại, bao gồm những vùng phía bắc đã công nghiệp hóa của người Basque, xung quanh hải cảng Bilbao, và vùng nói tiếng Catalan quanh Barcelona – một thành phố thương mại, thông tục và thân thiện với mọi thử nghiệm văn hóa. Còn ở vùng nội địa hiểm trở thì lại vẫn là một Tây Ban Nha muôn đời lạc hậu đầy những nữ tu, lừa ngựa, nhà thờ và những lãnh địa mênh mông chìm đắm trong mê tín và nghèo đói. Hai thế giới Tây Ban Nha ấy đã không thể chung sống với nhau khi bước sang thế kỷ 20. Cuộc phổ thông đầu phiếu năm 1931 đã chấm dứt vương triều Alfonso XIII. Nhà vua đã lưu vong. Nhưng chế độ Cộng hòa sau đó không thể khởi sự một thời đại tự do chính trị và công bằng xã hội. Thế lực bảo thủ tin rằng chế độ cộng hòa sẽ xóa bỏ giáo hội, quân đội và chế độ lãnh chúa điền địa, cốt lõi ngàn đời nay của Tây Ban Nha. Còn nền thể chế dân chủ cộng hòa thì lại trở thành con ngựa thành Troy của các thành phần vô chính phủ và cộng sản. Không bên nào chịu chia sẻ quyền lực để cùng cai quản một Tây Ban Nha hiện đại.

Đúng lúc cả hai thế lực ấy đang tích tụ súng đạn và hận thù để chờ dịp thanh toán nhau, thì họa sỹ Pablo Picasso, lưu vong đã ba chục năm trời, từ một chàng trai chỉ muốn “sống như người nghèo mà vẫn có tiền” giữa xóm nghèo của kinh thành Paris, nay đã quá quen với danh vọng, tiền bạc, mỹ nhân… bỗng thấy mình nhớ nhà. Cũng không hẳn vì xa mặt cách lòng đã lâu mà nhớ. Ngay giữa Paris, Picasso vẫn thân thiết với những nghệ sỹ đồng hương đã thành danh như Jaime Sabartes và Lorca, vẫn không thiếu vắng những đêm flamenco bốc lửa và những ký ức đấu bò ám ảnh. Nhưng từ khoảng 1930, cơn tự kỷ thiên tài cao ngạo của Picasso bắt đầu bị quấy rầy bởi một nỗi niềm ngày càng u tối và nặng nề, với những cơn ác mộng quánh đặc sự chết mang tên Tây Ban Nha. Picasso bắt đầu quay lại với các danh họa của quê hương mình, đặc biệt là Goya, danh họa vĩ đại của sự chết, hiện thân của câu nói cửa miệng của nhà viết kịch Lorca: “Tây Ban Nha là đất nước duy nhất có thú chơi dân tộc là ngắm nhìn sự chết .” Picasso không còn thỏa mãn với những nhát chém trên tranh vẽ đàn bà và tình dục nữa. Ông bắt đầu tìm lại cái huy hoàng chết chóc của những cảnh đấu bò.

Screen Shot 2016-01-15 at 11.24.47 AM

The Bullfight: Death of the Toreador, 1933, Picasso Museum, Paris

Năm 1934, Picasso về Tây Ban Nha, qua dãy núi Pyrenees chỉ để xem một trận đấu bò. Ai cũng biết danh ông. Nhưng Picasso vẫn chưa là một nhân vật thuộc một phe phái nào ở quê nhà. Cộng đồng nghệ sỹ Tây Ban Nha lúc đó cũng phe này phái kia và đều lo lắng về thời cuộc. Salvador Dali đã dự báo được cuộc nội chiến trong tranh của mình, nhưng lại đứng về phe dân tộc chủ nghĩa bảo thủ của tướng Franco. Giới họa sỹ Tây Ban Nha chưa biết Picasso rồi sẽ theo phe nào, nhưng phái bảo thủ cũng cho ông biết họ chả muốn lôi kéo hay lạnh nhạt gì với ông.

Trở lại Paris trong năm 1935, Picasso ngày càng rời bỏ phong cách nghệ thuật hiện đại thuần túy. Trái ngược hẳn với Piet Mondrian cũng đang ở Paris và đang muốn hội họa hiện đại thuần túy đến mức có thể thành hệ thống tỷ lệ khái quát chuẩn mực cho một xã hội hài hòa lý tưởng, Picasso quay về với huyền thoại và ký ức, với bộ tranh khắc Vollard Suite sáng tác ngay trong năm đó, khai quật những tầng sâu cổ đại nhất trong tâm thức. Căn cốt của những con sinh nghi lễ – bò và ngựa, tràn ngập bộ tranh này. Và cả thế giới của chốn mê cung Cretan, lần theo sợi chỉ của ký ức cổ đại vào tận cấm huyệt của quái thú Minotaur đầu bò và cuộc đối đầu giữa thú tính và thơ ngây tinh khiết. Trong bộ tranh khắc này, những ám ảnh gợi dục và chết chóc được phóng chiếu lên phông nền huyền thoại và lịch sử.

Screen Shot 2016-01-14 at 2.05.07 PM Screen Shot 2016-01-14 at 2.05.48 PM Screen Shot 2016-01-14 at 2.06.31 PM

Picasso hiện hình trong tranh lúc thì là nhân ngưu Minotaur đang say cơn kích dục, lúc lại chỉ là một con vật lông lá trong cuộc truy hoan, và thường xuyên là một kẻ hiếp dâm đang say máu. Nhưng qua tất cả những uẩn khúc tăm tối trong trí tưởng tượng của ông, người ta thấy hiện rõ một điều: con người hiện đại cực đoan này đang dồn hết tâm lực để đánh thức các thần tượng cổ đại. Cũng như bức Đứa trẻ dắt ngựa vẽ gần 30 năm trước đó đã kết nối cái cổ đại và hiện đại một cách vô thức, những nghi lễ, phép thuật và ẩn dụ cổ xưa này đang trở thành lời đối thoại với những kiếp nạn tàn bạo đương thời. Những con thú đang xổng chuồng, có vẻ như Picasso đang nói vậy. Tôi biết mà; tôi là một con đây.

Gần cuối năm 1935, khi Tây Ban Nha đã ở bờ vực tự sụp đổ, tất cả những hình tượng hỗn độn ấy, những bò, những Minotaurs, ngựa và hiệp sỹ đấu bò… được Picasso tập hợp lại thành một bức tranh khắc có sức nặng trang nghiêm và cường tráng của một tác phẩm tượng đài, một ngai thờ, một bức hoành cổ điển. Theo gương bộ tranh khắc Tauromaquia (Đấu bò) của Goya, Picasso gọi tác phẩm này của mình là Minotauromachy (Đấu Nhân ngưu).

Screen Shot 2016-01-08 at 3.41.55 PM

Minotauromachy, 50X70cm

Có vẻ như một màn trình diễn nghi lễ hiến sinh, được tái hiện trên một sân khấu nông choèn, như chạm khắc vào vách đá cao trên biển, giống những đền đài trong thế giới Aegean cổ đại. Tuy nhiên, khán giả lại không ngồi ở khán đài quanh sân khấu ngoài trời, mà trong một ngôi nhà bên Địa Trung Hải, quan sát sự việc từ một khuôn cửa sổ có chim câu đứng trên bậu, hệt như ở ngôi nhà phố Grands Augustins. Cảm giác như cảnh trí ấy là trong một giấc mơ, hoặc ký ức, về cả tình dục lẫn tín ngưỡng, đông cứng vụng về mà vẫn rạo rực gợi tình. Con ngựa, mõm há ra trong cơn giẫy chết, đang phòi gan ruột ra ngoài. Trên lưng nó là tấm thân trần hờ hững khăn che của một đấu sỹ đàn bà, như đang ngủ và mơ thấy chính giấc mơ này, mà cũng như đã chết. Con Nhân ngưu, cơ bắp cuồn cuộn đáng sợ, xông đến mà bị ngăn sững lại bởi luồng sáng của một cây nến duy nhất trên tay một bé gái – hình tượng của trinh tiết ngây thơ, trong bộ đồng phục học trò, đôi giầy mềm mại, tay kia cầm một bó hoa. Vậy là con thú có thể bị chặn đứng bởi quyền năng của ánh sáng. Nhưng câu chuyện vẫn chưa có hồi kết trong khoảng không gian chật chội nông choèn ấy. Cũng như trong mọi cơn ác mộng, cảnh tượng bức bí thật đáng sợ, xô đẩy trí tưởng tượng hãi hùng ra mọi phía như muốn thoát khỏi đó.

Tất cả các nhân vật biểu tượng sẽ có mặt trong bức Guernica – con bò, con ngựa tái nhợt, ngôi nhà vừa che chở vừa không thể là nơi trú ẩn – đều đã ra sân khấu cả rồi, khi Picasso còn chưa bộc lộ ý thức chính trị của mình. Cho nên khi đến lúc cần phải ra một tuyên ngôn hoành tráng về ánh sáng, bạo lực và tinh thần tử vì đạo, ông đã không cần đến một nghị quyết chính trị của đảng phái nào hết. Hình tượng đã có từ trong thẳm sâu tâm thức ông, từ ý thức coi mình vừa là kẻ gây tội vừa là nạn nhân của ông. Đó là lý do tại sao sức mạnh kết nối của Guernica lại phổ quát đến như vậy – nó là đường giây nóng gọi thẳng vào mọi nỗi sợ hãi của chúng ta.

(còn nữa)

Advertisements