Chùm thơ Emily Dickinson

Cuối năm 2011, anh Phạm Viết Cư nói có người tài trợ để anh làm tờ Lửa Thiêng – một tạp chí văn học thuần túy; và đề nghị tôi đóng góp cho số đầu tiên một chùm thơ dịch của bà Emily Dickinson. Anh cho tôi toàn quyền lựa chọn, và viết cả lời giới thiệu. Tôi gửi bài đúng hẹn, chỉnh lý một vài chi tiết sau khi trao đổi với anh Cư, nhận tiền nhuận bút của Lửa Thiêng, và nóng lòng mong số đầu được đón nhận xứng đáng. Nhiều tháng sau, tôi được anh Cư thông báo là do một số trục trặc gì đó của ban biên tập nên chùm thơ tôi dịch không được dùng. Tôi cũng tìm hiểu được lý do của sự trục trặc ấy, và cũng chẳng muốn nghĩ hoặc nhắc đến chuyện này nữa. Rồi cũng quên cả chùm thơ mình dịch, lưu trong laptop từ ngày ấy, cho đến tận hôm nay, khi soạn trang mạng này.

Đọc lại mấy bài thơ dịch này, thấy cũng còn nhiều chỗ phải chỉnh đốn. Nhưng cứ đưa lên đây để mọi người đọc, may ra sẽ có những góp ý thông thái và bổ ích cho mình.

Dưới đây là toàn bộ nội dung nhẽ ra đã in trong số đầu của tạp chí Lửa Thiêng, gồm có bài giới thiệu tác giả Emily Dickinson và 12 bài thơ của bà do tôi tuyển chọn và dịch.

 

Emily Dickinson (1830 – 1886)

Emily Elizabeth Dickinson ra đời ngày 10 tháng 12 năm 1830 tại một nơi hẻo lánh trong vùng Amherst thuộc tiểu bang Massachusetts, là con gái đầu lòng của nhà Dickinson. Cùng với anh trai Austin và em gái Lavinia, Emily lớn lên trong môi trường gia đình cực kỳ kín tiếng ít giao tiếp, dưới quyền gia trưởng nghiêm khắc của người cha – ông Edward Norcross Dickinson. Trong suốt cuộc đời mình, Emily hầu như không cảm nhận được tình mẫu tử của mẹ, và có thể đó là nguồn gốc của nhiều tâm tính lập dị của nhà thơ. Bắt rễ sâu sắc trong nếp sống thanh giáo của vùng Massachusetts thế kỷ 19, lũ trẻ nhà Dickinson được nuôi dưỡng trong truyền thống Cơ Đốc giáo và mặc nhiên chấp nhận mọi xác tín và quan niệm giá trị của người cha. Về cuối đời, Emily đã nghi ngờ những quan điểm chính thống của cả cha mình và nhà thờ, và những thách thức mà bà phải đương đầu trong chuyện này đã góp phần làm nên sức mạnh trong những vần thơ của bà.

Dòng họ Dickinson rất nổi bật ở Amherst. Ông nội của Emily – Samuel Fowler Dickinson, là một trong những người sáng lập ra trường Đại học Amherst, còn cha thì vừa là luật sư vừa là thủ quỹ của trường. Cha của Emily còn giữ nhiều vị trí quyền cao chức trọng trong Tòa án và Thượng viện của tiểu bang Massachusetts, và ở Hạ viện Liên bang Hoa Kỳ. Khác với cha mình, Emily không thích danh tiếng và đời sống xã hội ở Amherst, và bắt đầu ẩn mình từ rất sớm. Thấy con gái không hòa nhập được với sinh hoạt tôn giáo ở Amherst, ông Dickinson đích thân kiểm soát việc đọc sách của Emily, sợ rằng chúng có thể làm con gái mình sao nhãng tín ngưỡng.

Nhưng có người cha là một chính trị gia nổi bật như vậy lại giúp Emily có điều kiện học hành tử tế. Hết chương trình ở Amherst Academy, Emily vào học trường nữ tu South Hadley (bây giờ là Đại học Mount Holyoke), nơi cô bắt đầu nẩy nở thành một kiều nữ thanh tú với đôi mắt nâu đỏ dịu dàng ấm áp, mái tóc cùng màu gợn sóng và làn da mỏng mịn. Với những người bạn thân, tính cách kín đáo của cô là một nét đáng yêu tuy có lúc nực cười, nhưng với người lạ, vẻ nhút nhát im lặng ấy trở thành gần như khinh khỉnh khó ưa. Mặc dù học giỏi, nhưng chỉ hết một năm đầu ở đại học ấy là Emily đã bỏ trường và bắt đầu sống ẩn dật từ 1848 ở ngay nhà mình tại Amherst.

Suốt cuộc đời độc thân của mình, Emily chỉ giao tiếp với một vài người. Từ khi thôi học, cô bắt đầu mặc toàn đồ trắng, hầu như không bao giờ ra mặt tiếp khách, và rất ít khi ra khỏi nhà. Cho đến cuối đời, cô chỉ có một lần đi Philadelphia chữa mắt, một lần đến Washington, và đôi lần ra Boston. Đó là những lần duy nhất cô ra khỏi thị trấn quê hương mình. Nhưng cũng nhờ mấy chuyến đi hiếm hoi ấy mà Emily gặp được hai người đàn ông sẽ trở thành nguồn cảm hứng và chỗ dựa tinh thần rất quan trọng của mình, đúng vào lúc cô bắt đầu làm thơ một cách nghiêm túc và bước qua tuổi hai mươi: Charles Wadsworth và Thomas Wentworth Higginson. Cũng có mấy người nữa có ảnh hưởng đến Emily, như Samuel Bowles và J.G. Holland, nhưng Wadsworth và Higginson là hai người quan trọng nhất.

Trong chuyến đi Philadelphia, Emily đã gặp Charles Wadsworth, một cha cố 41 tuổi, sau này là “người bạn trần gian thân yêu nhất” của mình. Tính cách cô đơn lãng mạn và tư tưởng cải cách trong tín ngưỡng tin lành của Wadsworth đã lôi cuốn Emily và làm xúc tác cho những suy ngẫm luận lý của cô. Emily có thể bộc bạch với ông qua những vần thơ của mình. Những xác tín và giả định tôn giáo của ông rất khác với tư tưởng tiên nghiệm có phần dễ dãi mà Emily đã quen thuộc từ những trang viết của Emerson, và đó cũng là một nguồn hứng khởi cho cô. Điều đáng nói nhất là hầu hết mọi người đều tin rằng Emily đã dành cho Đức cha trùm xứ đạo Philadelphia ấy một tình yêu lớn, mặc dù ông đã có vợ. Nhiều nhà phê bình chuyên nghiên cứu thơ Dickinson cũng tin rằng Wadsworth là tâm điểm trong mọi bài thơ tình của Emily.

Khi đã có khá nhiều thơ, Emily muốn tìm người để tham vấn về việc xuất bản một tập thơ vô danh, và ngày 15 tháng 4 năm 1862, cô gửi một bức thư cho Thomas Wentworth Higginson – một nhân văn danh tiếng thời đó, kèm theo bốn bài thơ để xin ý kiến.

Mặc dù Higginson đã khuyên Emily đừng xuất bản, ông vẫn nhận ra phẩm chất độc đáo sáng tạo trong thơ cô, và đã trở thành người hướng dẫn của cô cho tới cuối đời. Sau cuộc trao đổi ấy, Emily đã quyết định không xuất bản, và thế là chỉ có 7 bài thơ của cô được đăng báo trong khi cô còn sống, 5 bài trong đó đăng trên tờ Springfield Republican. Tất cả những bài còn lại chỉ được in sau khi cô đã qua đời năm 1886.

Thơ Dickinson phản ánh sự cô độc của bà, nhưng cũng lưu dấu những khoảnh khắc hứng khởi riêng tư tràn đầy nhựa sống và hứa hẹn hạnh phúc. Bà chịu ảnh hưởng sâu nặng của những bài thơ siêu hình của nước Anh thế kỷ 17, của Kinh Khải huyền và nếp sống thanh giáo của một thị trấn hẻo lánh. Bà khâm phục thơ của Robert và Elizabeth Barrett Browning, cũng như của John Keats. Mặc dù bà không được đọc những bài thơ bị thiên hạ đồn là đáng xấu hổ của Walt Whitman, hai nhà thơ này giờ đây lại được coi là hai giọng thơ tiêu biểu đầu tiên của nền thi ca Mỹ.

Harold Bloom đã viết như sau trong một tiểu luận về Emily Dickinson: “Trong tất cả các nhà thơ viết bằng tiếng Anh trong hai thế kỷ 19 và 20, tôi đánh giá Emily Dickinson là người thách thức chúng ta về trí tuệ một cách xác thực nhất. Trí thức uyên bác và tinh tế tự nó không thể làm nên một nhà thơ; những phẩm chất cốt lõi vẫn là tính sáng tạo, tài nghệ câu chữ và thi tứ, và cái nhạy bén lạ lùng bằng trực giác mà khiến cho nhịp điệu cũng chan chứa ý nghĩa và giá trị – cái nhạy bén vốn không có danh từ nào mô tả được. Dickinson có tất cả những phẩm chất ấy, cùng với một tâm trí độc đáo và mạnh mẽ đến mức ngay cả đến giờ chúng ta vẫn khó lòng bắt đầu theo kịp được bà.”

Đã có rất nhiều người tuyển dịch thơ Dickinson. Ai cũng có cách tuyển chọn riêng của mình, nhưng đa phần đều lưu ý đến thị hiếu và cách cảm nhận thơ của độc giả bản dịch. Vì chưa được am tường về thị hiếu và cách cảm nhận thơ của độc giả Lửa Thiêng, nên người dịch đành cứ nghe theo cảm nhận của riêng mình khi chọn hái từ gần 1800 bài ra một chùm nhỏ vừa sức. Thật nhọc nhằn. Rất nhiều lần đã tưởng chọn được rồi, đến khi tìm hiểu xuất xứ của từng bài dựa vào những thư từ và nhật ký của tác giả đã được nghiên cứu và giới thiệu thì lại thấy chúng chưa thể làm đại diện xứng đáng. Mãi mới chọn được 10 bài theo yêu cầu của Lửa Thiêng, có thể đại diện cho giọng thơ đi từ hồn hậu đến trầm tư và u ẩn của Dickinson, thì lại phát hiện rằng chúng đã được Aaron Copland phổ nhạc bắt đầu từ 1950 và nay đã thành một tổ khúc gần như cổ điển trong di sản thi ca và âm nhạc Mỹ. Người dịch rất lấy làm mừng, vì nghĩ rằng người Mỹ đã coi những bài này là giọng thơ Dickinson đặc trưng của họ, thì giới thiệu chúng với độc giả Lửa Thiêng là xứng đáng. Nhưng tổ khúc đặc biệt này của Copland còn có thêm 2 bài nữa mà người dịch lại không thích, không muốn dịch. Mà con số 12 thì có cái gì đó hấp dẫn hơn hẳn con số 10, bèn dịch thêm hai bài mà người dịch rất thích. Thành thử chùm thơ này có 12 bài, thì 10 bài trong đó đã được Copland phổ nhạc trong Tổ khúc 12 bài thơ Dickinson.

Aaron Copland là nhà soạn nhạc Mỹ nổi tiếng với phong cách jazz phối trộn với các dòng nhạc dân giã Hoa Kỳ. Nhạc phẩm của ông đã nhận được nhiều giải thưởng cao quý, kể cả giải Pulitzer và giải Oscar. Ông chọn thơ Dickinson để phổ nhạc, vì cũng như âm nhạc, thơ Dickinson có một cái gì đó “vẫn giữ một khoảng cách ngay cả khi đang hoàn toàn chiếm ngự ta. Nó vừa ở ngoài kia, vừa là một phần nội tại của ta.”

Trung thành với nguyên tác, người dịch để nguyên 12 bài thơ không có đầu đề với số thứ tự của chúng trong tổng số gần 1800 bài thơ được tìm thấy và xuất bản của Emily Dickinson, chứ không đặt đầu đề cho từng bài như trong tổ khúc của Copland.

Như Roman Jakobson đã nói, thơ – nơi hình thức diễn đạt ý nghĩa, nơi “cái tương tự về âm sắc được cảm nhận như một mối quan hệ về ngữ nghĩa” – là thứ “không thể dịch được”. Với thơ Dickinson, điều này lại càng xác đáng. Dù sao, việc vô vọng nào cũng vẫn có người làm, và tiện nhất là đổ lỗi cho Tình yêu. Người dịch đã đề nghị Lửa Thiêng in cả nguyên tác và bản dịch, để bạn đọc cũng được dự phần vào tình yêu ấy, biết đâu lại còn hào phóng đóng góp phần mình vào công việc không thể làm được này.

Trịnh Lữ

10-12-2011

________________________________________________________________

1 – poem #790                                                          Bài số 790 (có trong tổ khúc của Copland)

Nature—the Gentlest Mother is,                    Thiên nhiên—bậc nhất Mẹ Hiền,

Impatient of no Child—                                           Với Con chỉ một nỗi niềm xót thương

The feeblest—or the waywardest—                      Đứa ốm đau—đứa tha hương

Her Admonition mild—                                            Lời răn Mẹ vẫn du dương khoan hòa

In Forest—and the Hill—                                         Nơi đồi cao—giữa Rừng xa

By Traveller—be heard—                                       Kẻ lữ hành có nghe ra những lời

Restraining Rampant Squirrel—                             Mẹ ngăn đàn sóc mải chơi

Or too impetuous Bird—                                          Nhắc con Chim nọ đang hơi quá nhời.

How fair Her Conversation—                                  Như Chiều Hè—Ấm áp trôi

A Summer Afternoon—                                            Chuyện trò với Mẹ thảnh thơi yên hòa

Her Household — Her Assembly —                          Có Mẹ đâu cũng là Nhà

And when the Sun go down —                                 Cả khi ác lặn cũng là bình yên

Her Voice among the Aisles                                      Tiếng Mẹ ngân—lời Phúc Duyên

Incite the timid prayer                                             Xua tan sợ hãi tương liên nguyện cầu

Of the minutest Cricket—                                        Con Dế nhỏ hết lo âu

The most unworthy Flower—                                 Bông Hoa dại hết u sầu vô danh

When all the Children sleep—                                Khi Đàn Con đã ngủ lành

She turns as long away                                            Bấy giờ Mẹ mới đành lòng quay đi

As will suffice to light Her lamps—                         Sao trời thắp sáng một khi

Then bending from the Sky—                                 Trời cao Mẹ lại cúi về nơi đây

With infinite Affection—                                          Vô biên—Tình Mẹ tràn đầy

And infiniter Care—                                                 Âu lo lòng mẹ sâu dày còn hơn

Her Golden finger on Her lip—                               Khi Ngón Vàng Mẹ đặt Môi

Wills Silence—Everywhere—                                  Nỗi niềm Im tiếng—Muôn nơi khoan hòa—

2 – poem # 1593                                                       Bài số 1593 (có trong tổ khúc của Copland)

There came a Wind like a Bugle —               Có cơn Gió như một tiếng Kèn đồng—

It quivered through the Grass                                 Rùng mình qua cỏ

And a Green Chill upon the Heat                            Xanh Buốt cả hơi ấm

So ominous did pass                                                 Thấu suốt rợn người

We barred the Windows and the Doors                Ta đã chốt hết Cửa sổ Cửa vào

As from an Emerald Ghost –                                    Như muốn ngăn một Hồn ma màu Ngọc bích—

The Doom’s electric Moccasin                                  Dấu giầy Tận thế

That very instant passed —                                      Như luồng điện ào qua đúng giây phút ấy—

On a strange Mob of panting Trees                        Trên đám Cây cuồng loạn hổn hển lạ lùng

And Fences fled away                                               Rồi những Hàng Rào bỏ chạy

And Rivers where the Houses ran                          Những dòng Sông ào vào Nhà cửa

Those looked that lived — that Day —                     Vào những gì có vẻ còn sống—Ngày hôm đó

The Bell within the steeple wild                              Chuông nhà thờ vang lên hoang dại

The flying tidings told —                                           Loan tin dập dồn

How much can come                                                 Dù những gì sẽ đến

And much can go,                                                      Và những gì sẽ đi,

And yet abide the World!                                         Mà Thế giới này vẫn vậy!

3 – poem #248                                                          Bài số 248 (có trong tổ khúc của Copland)

Why — do they shut Me out of Heaven?                 Tại sao—họ cấm cửa Tôi tới Thiên đàng?

Did I sing — too loud?                                               Có phải vì—tôi đã hát quá to?

But — I can say a little “Minor”                                Mà tôi thì—có thể vẫn nhẹ lời “Giọng thứ”

Timid as a Bird!                                                         Như con chim bẽn lẽn!

Wouldn’t the Angels try me —                                 Giá như các Thiên thần cho tôi thử—

Just — once — more —                                               Chỉ một lần—một lần nữa thôi—

Just — see — if I troubled them —                            Để xem—liệu tôi có khiến họ phật lòng—

But don’t — shut the door!                                       Nhưng xin đừng—cấm cửa!

Oh, if I — were the Gentleman                                 Ô nếu tôi—là một trang Quân tử

In the “White Robe” —                                              Trong bộ “Bạch Y” phấp phới ấy—

And they–were the little Hand–that knocked —   Còn họ—là bàn Tay nhỏ bé này—đang gõ cửa—

Could — I — forbid?                                                   Liệu tôi có thể—cấm cửa họ chăng?

 

4 – poem # 715                                                         Bài số 715 (có trong tổ khúc của Copland)

The World — feels Dusty                                     Thế giới—sẽ như phủ đầy Bụi

When We stop to Die —                                            Khi ta dừng lại để Chết—

We want the Dew — then —                                     Ta thèm giọt Sương—lúc ấy—

Honors — taste dry —                                                Mọi lễ nghi—đều khô khốc—

Flags — vex a Dying face —                                       Cờ phướn—càng khó chịu hơn—

But the least Fan                                                       Nhưng cây quạt nhỏ nhất

Stirred by a friend’s Hand —                                   Phe phẩy bởi Tay một người bạn—

Cools — like the Rain —                                             Sẽ mát dịu—như Mưa—

Mine be the Ministry                                                Tôi sẽ làm như vậy

When they Thirst comes —                                      Khi cơn Khát ấy đến với họ

And Hybla Balms —                                                   Và sẽ kiếm cả Hương Thần—

Dews of Thessaly, to fetch —                                    Cùng những giọt Sương đầy phép lạ—

 

5 – poem #47                                                            Bài số 47 (có trong tổ khúc của Copland)

Heart! We will forget him!                             Lòng ta hỡi! Hãy cùng ta quên chàng!

You and I — tonight!                                                 Mi với ta—đêm nay!

You may forget the warmth he gave —                  Mi hãy quên sự nồng ấm của chàng—

I will forget the light!                                                Ta sẽ quên vầng sáng ấy!

When you have done, pray tell me                         Khi quên rồi, lạy trời, mi hãy nói ta hay

That I may straight begin!                                       Để ta có thể bắt đầu ngay!

Haste! lest while you’re lagging                               Hãy nói ngay! Kẻo nếu mi chậm

I remember him!                                                       Ta sẽ lại nhớ chàng!

 

6 – poem #1320                                                       Bài số 1320 (có trong tổ khúc của Copland)

Dear March — Come in —                                  Tháng Ba thân mến—Xin mời vào—

How glad I am —                                                        Tôi vui mừng biết bao—

I hoped for you before —                                         Đã mong đợi bạn bấy lâu—

Put down your Hat —                                                Bạn bỏ Mũ ra nào—

You must have walked —                                         Chắc bạn đã đi bộ đến đây—

How out of Breath you are —                                   Bạn đang hụt cả hơi này—

Dear March, Come right up the stairs with me —  Tháng Ba thân mến, hãy lên gác với tôi luôn nào—

I have so much to tell —                                            Tôi có bao nhiêu điều muốn nói—

I got your Letter, and the Birds —                           Tôi đã nhận Thư bạn, và cả lũ Chim nữa—

The Maples never knew that you were coming –             Bọn Cây Thích chả biết bạn sẽ đến đâu—

till I called                                                                  Tôi phải bảo đấy

I declare — how Red their Faces grew —                Biết tin rồi—mặt chúng cứ đỏ bừng—

But March, forgive me – and                                   Nhưng Tháng Ba  hãy tha thứ cho tôi,

All those Hills you left for me to Hue —                   Tất cả những ngọn Đồi kia bạn để tôi tô màu—

There was no Purple suitable —                              Mà tôi chẳng có sắc Tím nào thích hợp—

You took it all with you —                                         Bạn đã mang tất cả đi rồi—

Who knocks?  That April.                                          Ai gõ cửa? Lại cậu Tháng Tư.

Lock the Door —                                                         Hãy khóa Cửa lại—

I will not be pursued —                                            Đừng ai theo chân tôi như thế—

He stayed away a Year to call                                  Cả một năm rồi cậu ấy mới tới

When I am occupied –                                              Đúng lúc tôi đang bận—

But trifles look so trivial                                           Nhưng những vặt vãnh ấy đâu đáng gì

As soon as you have come                                        Một khi bạn đã tới

That Blame is just as dear as Praise                       Trách móc ấy cũng thân ái như Lời Khen tặng

And Praise as mere as Blame                                  Mà Khen thì cũng là Trách móc mà thôi

 

7. Poem # 328                                                           Bài số 328

A Bird came down the Walk—                        Có con Chim đang ở Lối đi—

He did not know I saw—                                          Không biết tôi đang nhìn nó—

He bit an Angleworm in halves                               Nó cắn đứt đôi một con giun

And ate the fellow, raw,                                            Rồi ăn sống luôn anh chàng ấy,

And then he drank a Dew                                        Sau đó nó uống một giọt Sương

From a convenient Grass—                                      Đọng sẵn ngay trên Cỏ—

And then hopped sidewise to the Wall                  Rồi nhảy né vào chân bức Tường

To let a Beetle pass—                                               Nhường đường một con Bọ Hung—

He glanced with rapid eyes                                     Nó liếc với đôi mắt láo liên

That hurried all around—                                       Hớt hải khắp xung quanh—

They looked like frightened Beads, I thought—    Như đôi Hạt cườm sợ hãi, là tôi nghĩ thế—

He stirred his Velvet Head                                       Nó rung cái đầu mượt như nhung

Like one in danger, Cautious,                                   Như đang trong hiểm nguy, Cảnh giác,

I offered him a Crumb                                             Tôi mời nó một Vụn bánh

And he unrolled his feathers                                   Và nó sải cánh bay đi

And rowed him softer home—                                Tìm lối về nhà—

Than Oars divide the Ocean,                                   Dịu nhẹ hơn Mái Chèo ngoài Đại dương,

Too silver for a seam—                                            Lấp lánh xóa nhòa trời vào nước—

Or Butterflies, off Banks of Noon                             Yên ắng hơn cả những cánh Bướm

Leap, plashless as they swim.                                  Rập rờn bay trong nắng giữa ngày.

 

8. Poem #627                                                            Bài #627

The Tint I cannot take—is best—        Sắc độ không thể nhận ra—là đẹp nhất—

The Color too remote                                                Màu nó quá xa vời

That I could show it in Bazaar—                             Tôi không thể bày ngoài Hội Chợ—

A Guinea at a sight—                                                Một Quan tiền mỗi người xem—

The fine—impalpable Array—                                Nó tinh tế—không thể nào động chạm—

That swaggers on the eye                                        Trong mắt ta một giải lung linh

Like Cleopatra’s Company—                                   Như Thủy đoàn của Cleopatre[1]

Repeated—in the sky—                                           Đang hiện về—trên cao xanh—

The Moments of Dominion                                      Những Khoảnh khắc Vương giả ấy

That happen on the Soul                                         Rời Linh Hồn ra đi

And leave it with a Discontent                                 Để lại một Khắc Khoải

Too exquisite—to tell—                                           Vô ngôn—tuyệt mỹ

The eager look—on Landscapes—                         Vẻ nôn nả của Phong cảnh—

As if they just repressed                                          Như thể chúng vừa phải giấu nhịn

Some Secret—that was pushing                             Một Bí mật nào đó—đang lồng lên

Like Chariots—in the Vest—                                   Như những cỗ Chiến xa—trong Áo ngực—

The Pleading of the Summer—                               Vẻ Nồng nàn của Mùa Hạ—

That other Prank—of Snow—                                 Rồi Trò tinh quái kia—của Tuyết—

That Cushions Mystery with Tulle,                         Ngăn che Huyền bí bằng Khăn mỏng,

For fear the Squirrels—know                                  Vì sợ bọn Sóc—biết

Their Graspless manners—mock us—           Những kiểu mơ hồ ấy của chúng—giễu cợt ta—

Until the Cheated Eye                                              Cho tới khi Mắt bị Đánh lừa này

Shuts arrogantly—in the Grave—                          Ngạo nghễ nhắm lại—dưới Mồ—

Another way—to see—                                            Để nhìn thấy—bằng cách khác—

 

9 – poem #280                                                          Bài số 280 (có trong tổ khúc của Copland)

I felt a Funeral, in my Brain,                           Trí óc tôi như có một đám tang

And Mourners to and fro                                         Những người Khóc than đi tới đi lui

Kept treading — treading — till it seemed              Giậm  chân—không ngừng—cho tới lúc

That Sense was breaking through —                      Cảm giác ấy vỡ vụn—

And when they all were seated,                              Rồi khi tất cả họ đã ngồi xuống,

A Service, like a Drum —                                           Buổi Lễ, như một hồi Trống—

Kept beating — beating — till I thought                  Dội mãi—không ngừng—cho tới lúc

My Mind was going numb —                                    Tôi tưởng Tâm trí mình tê liệt—

And then I heard them lift a Box                            Rồi sau đó tôi nghe tiếng họ khiêng Hòm

And creak across my Soul                                        Kẽo kẹt xuyên qua Linh hồn tôi

With those same Boots of Lead, again,                    Vẫn những gót giầy đóng cá ấy,

Then Space — began to toll,                                     Rồi Không gian—bắt đầu ngân vang,

As all the Heavens were a Bell,                               Như mọi Tầng Trời là một quả Chuông,

And Being, but an Ear,                                              Và Hiện hữu, chỉ là một Vành Tai,

And I, and Silence, some strange Race                Và tôi, chạy đua cùng Im Lặng, lạ lùng thay

Wrecked, solitary, here —                                       Như thuyền đắm, cô độc, ngay đây—

And then a Plank in Reason, broke,                      Rồi một mạn thuyền Lí trí bục vỡ

And I dropped down, and down —                         Tôi rơi xuống,  chìm nghỉm—

And hit a World, at every plunge,                          Vùng vẫy đâu cũng đập phải một Cõi,

And Finished knowing — then –                            Và rồi —không còn biết gì nữa—

 

10 – Poem # 183                                                      Bài số 183 (có trong tổ khúc của Copland)

I’ve heard an Organ talk, sometimes          Tôi đã nghe một cây đại phong cầm trò chuyện

In a Cathedral Aisle,                                                  Đôi lần, trong một Giáo đường,

And understood no word it said —                          Chẳng hiểu được lời nào—

Yet held my breath, the while —                             Mà vẫn nín thở, suốt lúc ấy—

And risen up — and gone away,                              Rồi đứng dậy—và bỏ đi,

A more Bernardine Girl —                                        Sẵn sàng xả thân hơn[2]

Yet — know not what was done to me            Dù vẫn chẳng biết mình đã trải qua chuyện gì

In that old Chapel Aisle.                                           Trong Giáo đường cổ xưa ấy.

 

11 – Poem #79                                                          Bài số 79 (có trong tổ khúc của Copland)

Going to Heaven!                                                 Lên Thiên Đàng!

I don’t know when—                                                Tôi đâu biết khi nào—

Pray do not ask me how!                                          Lạy trời xin đừng hỏi làm sao!

Indeed I’m too astonished                                       Hẳn là tôi đang kinh hoảng

To think of answering you!                                      Và không thể đáp lời!

Going to Heaven!                                                       Lên Thiên Đàng!

How dim it sounds!                                                   Nghe sao ảm đạm!

And yet it will be done                                             Mà vẫn sẽ phải làm

As sure as flocks go home at night                          Như bày cừu vẫn tìm về mỗi tối

Unto the Shepherd’s arm!                                       Vào vòng tay người Chăn chiên!

Perhaps you’re going too!                                        Có thể bạn đang lên cũng nên!

Who knows?                                                              Ai biết được?

If you should get there first                                     Nếu bạn tới đó trước

Save just a little space for me                                  Hãy giữ cho tôi một chỗ nhỏ thôi

Close to the two I lost—                                           Gần chỗ hai người tôi đã mất—

The smallest “Robe” will fit me                               Tôi sẽ vừa với tấm Áo choàng nhỏ nhất

And just a bit of “Crown”—                                     Và vòng miện bé nhất—

For you know we do not mind our dress               Bạn biết rồi ta mặc gì chả được

When we are going home—                                    Khi về nhà mình—

I’m glad I don’t believe it                                         Tôi mừng vì mình không tin

For it would stop my breath —                                Vì nếu thế chắc tôi đã tắt thở rồi—

And I’d like to look a little more                              Tôi còn muốn ngắm nghìn thêm chút nữa

At such a curious Earth!                                           Trái đất bí ẩn này!

I’m glad they did believe it                                      Tôi mừng vì họ đã tin

Whom I have never found                                       Những người tôi sẽ không bao giờ gặp lại

Since the might Autumn afternoon                        Từ buổi chiều thu đầy quyền phép

I left them in the ground.                                         Khi tôi bỏ họ nằm lại dưới lòng đất.

 

12 – Poem #712                                                       Bài 712 (có trong tổ khúc của Copland)

Because I could not stop for Death–             Tôi không thể dừng chân chờ Chết—

He kindly stopped for me–                                      Nên Chàng ân cần đỗ lại đón tôi—

The Carriage held but just Ourselves–                   Trên Cỗ Xe chỉ Chúng tôi sóng đôi—

And Immortality.                                                       Cùng Bất Tử.

We slowly drove—He knew no haste                     Xe chậm rãi lăn—Chàng đâu biết vội

And I had put away                                                  Mà tôi cũng đã bỏ lại rồi

My labor and my leisure too,                                   Cả lao khổ cùng thư nhàn vui thú

For His Civility—                                                       Để  Lịch Thiệp như Chàng—

We passed the School, where Children strove      Xe đi qua Trường, nơi Bọn Trẻ

At Recess—in the Ring—                                         Hăng hái Ra Chơi—Đùa vật nhau—

We passed the Fields of Gazing Grain                  Qua những Cánh đồng Mẩy hạt Đăm chiêu

We passed the Setting Sun—                                  Qua vầng Mặt Trời Đang Lặn—

Or rather—He passed Us—                                     Mà có thể là—Mặt trời đã bỏ Chúng tôi—

The Dews drew quivering and chill—                  Những Hạt Sương về, rùng mình giá lạnh—

For only Gossamer, my Gown—                            Bởi rất Mong Manh, bộ Lễ Phục của tôi—

My Tippet—only Tulle—                                         Giải Khăn choàng—chỉ là Lưới Nhẹ—

We paused before a House that seemed               Chúng tôi dừng trước một Ngôi Nhà

A Swelling of the Ground—                                     Như Sưng lên từ Đất—

The Roof was scarcely visible—                              Nóc nhà phảng phất—

The Cornice—in the Ground—                               Riềm mái—Chìm sâu—

Since then—’tis Centuries—and yet                      Kể từ ấy — đã nhiều Thế kỷ —vậy mà như

Feels shorter than the Day                                      Ngày đó vẫn dài hơn

I first surmised the Horses’ Heads                          Khi tôi ngỡ Cỗ Xe ngựa ấy

Were toward Eternity—                                          Sẽ đằng đẵng miên trường rong ruổi—

(Thưa anh Cư: cám ơn anh đã phát hiện chữ He là the Setting Sun trong câu Or rather—He passed Us. Trong bài này, Dickinson phải gọi sự Chết là Chàng, vì cô coi cuộc đời cũng như một cuộc hôn nhân với cái Chết, mà cô thì không phải người đồng tính nữ, nên cô viết rõ rằng Death là He. Chuyến xe chính là cuộc viễn du của cuộc đời, từ lúc nhỏ vật nhau, qua tuổi Mẩy hạt Đăm chiêu, đến khi Mặt trời lặn, chấm dứt ở nấm mồ. Cô đã vận lễ phục cho cuộc hôn nhân ấy, và sống với ý thức đồng hành với Bất tử và sự Chết, để lịch duyệt cùng vị hôn phu của mình là sự Chết. Cuộc sống dù chỉ là một Ngày, mà nó vẫn đằng đẵng hơn cả nhiều thế kỷ sau khi đã chết, vì lúc sống mình cứ ngỡ cuộc viễn du ấy là miên viễn. Xin giữ nguyên Chết là Chàng cho Dickinson, anh Cư ạ. Trong thi cảnh bài này, Chết không phải là Thần Chết theo quan niệm thông thường.)

 


[1] Helen McNeil, tác giả đã tuyển chọn và biên tập ba tập thơ của Emily Dickinson, cho rằng Emily gọi những đám mây là “Cleopatra’s Company” là lấy ý và hình ảnh của Shakespeare. Trong vở Antony and Cleopatra, Antony bị Octavian đánh bại trong trận thủy chiến tại Actium là vì hạm đội của Cleopatra đã bỏ chạy chứ không tham chiến như đã hẹn với Antony, trở nên vô dụng hoàn toàn trên sóng nước như những đám mây. Bản thân Antony khi thua trận cũng cảm thấy mình vừa hoang mang vừa vô dạng như “một đám mây hình rồng cuốn, một đám hơi nước hình gấu hoặc mãnh sư” (Hồi 4, cảnh 14, câu thoại số 3-4)

[2] Bernardine là một tu sỹ dòng Franciscan khổ hạnh tại Italy cuối thế kỷ 14 sang đầu thế kỷ 15, được phong thánh vì công đức xả thân cứu chữa nạn nhân dịch hạch và những tư tưởng về Đấng Christ của ông. Trong thế giới nói tiếng Anh, Bernardine Girl có nghĩa là một cô gái mạnh mẽ và can đảm như một con gấu.

Advertisements

3 Responses to Chùm thơ Emily Dickinson

  1. Trai Nguyen nói:

    Thật mừng vì đọc được các bài thơ Anh dịch quá hay ạ!

  2. Tiêu-diêu nói:

    Bài: Heart! We’ll forget him! diễn nôm ra tiếng quê mình anh nhé:

    Chúng mình cùng trọn đêm nay
    Mi quên hơi ấm vòng tay của chàng
    Ta quên vầng sáng rỡ ràng
    Khi quên hãy kể mọi đàng ta hay
    Ta có thể bắt đầu ngay
    Đừng lần lữa, hãy tỏ bày tim ơi

    Nhớ chàng ta lại chơi vơi!

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s